Banner Header Left
Banner Header Center
Banner Header Right

Lời tựa

LỜI GIỚI THIỆU

Một số nét về họ Hoàng ở làng Quan Dụ 

 xã Đức Quang – huyện Đức Thọ - tỉnh Hà ĩnh 

“Chim có tổ, người có tông”; “ Uống nước nhớ nguồn” những câu ca xưa nói lên đạo lý của con người Việt Nam là luôn phải nhớ về nguồn cội tổ tiên, ông bà, cha mẹ. “Cây có gốc thì cành mới mạnh, Người có tổ tông dòng họ mới vững bền”. Chính vì vậy mà dòng họ phải có gia phả để lưu truyền lại cho con cháu hậu thế biết về lịch sử, truyền thống dòng tộc của mình và cũng để nhận biết anh em trên dưới, sống cho trọn đạo lý làm người. 

Hiện nay họ Hoàng trên toàn nước Việt Nam theo sử sách ghi lại có hai nguồn gốc. Một là họ Hoàng từ Trung Quốc di cư đến Việt Nam từ ngàn năm về trước. Hai là dòng họ Hoàng được biến đổi từ họ Mạc. Sử sách cũng đã ghi lại khi Nhà Mạc tan rã, một số bị Nhà Lê truy sát; số còn lại chạy lánh nạn khắp nơi và đổi thành nhiều tên họ khác nhau, trongg đó có họ Hoàng. Theo quy ước của anh em họ Mạc khi đổi tên phải tuân theo “khử túc bất khử thủ”; nghĩa là bỏ chân không bỏ đầu. Vì vậy chữ Hoàng () và chữ Mạc () đều có bộ thảo trên đầu giống nhau.

Trong tài liệu nói về dòng họ Hoàng xuất thân từ họ Mạc trên đất Hà Tĩnh có 5 chi họ, trong đó nói đến họ Hoàng Văn ở Đức Quang – Đức Thọ. Trên đất Nghệ An có 32 chi nhánh tập trung ở Đô Lương, Quỳnh Lưu, Hưng Nguyên; riêng xã Hưng Yên- Hưng Nguyên có dòng họ Hoàng Đăng ở xóm Chợ Liệu (Xã Hưng Yên cách núi Thành Nghệ An khoảng 15- 20 km ngược theo đê Hưng Nguyên về hướng Nam Đàn). Đây có thể là địa chỉ có liên quan đến họ Hoàng ở làng Quang Dụ - xã Đức Quang. 

Họ Hoàng ở Làng Quang Dụ - Xã Đức Quang – huyện Đức Thọ - tỉnh Hà Tĩnh tính đến nay đã trải qua 15 -16 đời (Xin được đặt tên Họ Hoàng làng Quan Dụ để phân biệt với các họ Hoàng khác ở Đức Quang). Con cháu họ Hoàng đã đi làm ăn sinh sống khắp mọi miền Tổ Quốc, kể cả ở ngoài Nước. Cuốn gia phả xưa viết bằng chữ Hán; qua thời gian và thiên tai bão lụt nên đã mục nát; hơn nữa con cháu bây giờ không ai biết chữ Hán nên không dùng được. Để tiếp nối ghi chép gia phả bằng chữ Quôc ngữ sau năm 1975 khi đất nước đã hòa bình, Cụ Hoàng Đình Lới (Hoàng Đình Vị - Đời thứ XI) còn sống và biết chữ Hán và Ông Hoàng Xuân Diệu (Đời thứ XII) dịch ra chữ Quốc ngữ được một ít. Hơn 20 năm sau ông Hoàng Xuân Lựu (Đời thứ XII) đã nhờ người dịch thêm một ít và sưu tầm bổ sung thêm các đời sau này thành tài liệu như hiện nay. 

Lại nói về Họ Hoàng ở Làng Quan Dụ - xã Đức Quang – huyện Đức Thọ - tỉnh Hà Tĩnh (cũ); khởi Tổ là Tổ Ông Hoàng Đăng Tạo, hiện sinh Tú tài, nơi sống là Thôn Chợ Liệu, xóm Bảy nhà (Gia phả ghi rõ như vậy). Từ đời thứ I đến đời thứ VI đều mang dòng họ Hoàng Đăng (Hoàng Đăng Tạo, Hoàng Đăng Đạt, Hoàng Đăng Vinh, Hoàng Đăng Ưu, Hoàng Đăng Gia, Hoàng Đăng Hợp). Như vậy khởi nguồn họ Hoàng làng Quang Dụ là Hoàng Đăng. Trong 6 đời dòng họ Hoàng Đăng, gia phả không để lại nhiều  nhưng cho thấy là một dòng họ rất phát triển, có người được học hành đỗ đạt như Tổ Ông Hoàng Đăng Tạo, người giàu có như Tổ Ông Hoàng Đăng Ưu (Nhiêu Nam, đời thứ IV). Đời thứ IV còn có ông Hoàng Đăng Tể là Hương Tăng Kỳ Lão kiêm Thập Lý Hầu, ông Hoàng Đăng Trọng được phong là Thị Hầu Bá Hộ chức, ông Hoàng Đăng Vân là Thượng Lý Hầu. Con gái có em gái ông Hoàng Đăng Tạo là Hoàng Thị Á Hoa Nương (Ngọc Nữ), em gái Tổ Ông Hoàng Đăng Ưu là Hoàng Linh Tiên Hoa; theo cách hiểu như ngày nay các Bà là những người con gái đẹp trong vùng và là con nhà có gia thế. Bắt đầu từ đời thứ VII về sau không còn mang tên họ Hoàng Đăng nữa; ví dụ như Tổ Ông Hoàng Quốc Cẩn (Đời thứ VII) là Kỳ lão sống trên 60 tuổi (70 tuổi là xưa nay hiếm). 

Tính từ đời thứ IIX trở về sau gia phả ghi chép được đầy đủ hơn. Tổ Ông Hoàng Lê Nhiệm – Hương Nhiệm (Đời thứ IIX), Ông có 20 năm làm Lý trưởng. Ông mất mộ được táng tại chân Núi Thành (gần nhà máy Đường) thuộc Hưng Nguyên Nghệ An. Hiện nay được cải táng về Nghĩa trang Hoàng tộc tại Núi Xạ - Phường Bắc Hồng – tỉnh Hà Tĩnh. Tổ Ông Hoàng Lê Nhiệm có 2 người con trai là Hoàng Văn Vượng (Tên tục là Uông) và Hoàng Văn Liễn. Gia phả ghi chép lại về sau con cháu Ông Hoàng Văn Vượng là cánh bác; con cháu Ông Hoàng Văn Liễn là cánh chú. Riêng Ông Hoàng Văn Vượng có Bà cả là Nguyễn Thị Thiện sinh được một con trai và hai con gái. Con trai là Hoàng Nhân Thọ mất khi 26 tuổi. Vì không có người nối dõi nên Ông lấy thêm Bà thứ hai và Bà thứ Ba đều không có con trai. Bà thứ Tư là Nguyễn Thị Tỵ sinh ra Ông Hoàng Trường và Ông Hoàng Cửu và con cháu được phát triển đề huề như ngày hôm nay. Điều đó cũng giải thích tại sao con cháu bên cánh chú thường lớn tuổi hơn bên cánh bác.

Nói đến làng Quang Dụ - xã Đức Quang – huyện Đức Thọ - tỉnh Hà Tĩnh (cũ) phải nói đến một địa danh không thể quên đó là Bãi Đình. Bãi Đình là một bãi phù sa nằm giữa sông Lam đất đai phì nhiêu. Hàng năm mùa lũ lụt dòng sông Lam bên lở bên bồi làm cho Bãi Đình ngày càng phát triển rộng lớn. Dân hai bên bờ sông tranh chấp nhau để canh tác trồng trọt hoa màu và chăn nuôi trâu bò. Con cháu Ông Hoàng Văn Vượng  và Hoàng Văn Liễn cùng làm ăn trên mảnh đất này và phát triển dòng Họ Hoàng ở làng Quang Dụ ngày càng vững mạnh. Nhà thờ họ được đặt trong vườn nhà ông Tộc trưởng Hoàng Nguyên Bính. Hàng năm đến rằm tháng giêng và rằm tháng bảy con cháu tập trung đông đủ và cúng bái linh đình. Đêm 14 sáng rằm người gìa thì tập trung uống rượu, đánh tổ tôm; người lớn thì lo mổ lợn, mổ bò, hông xôi làm cỗ; trẻ con thì chơi trò đuổi bắt hò hét vang cả một vùng quê bên sông Lam, đứa nào mệt thì lăn gốc cam gốc nhãn mà ngủ. Đúng 4 giờ sáng chiêng trống nổi lên, tất cả tập trung tại Nhà thờ Họ để làm lễ cúng bái Tổ tiên. Sau đó là ăn cỗ; người lớn thì trải chiếu, trẻ con thì xếp ra nong phơi thóc tha hồ bốc. Ăn uống xong khi về còn có nắm xôi và miến thịt lợn luộc mang phần về cho người ở nhà.

Do biến đổi của xã hội, sau ngày hòa bình lập lại 1954; con cháu họ Hoàng đi làm ăn khắp nơi. Năm 1960 theo chủ trương của Nhà nước một số di dân xuống làng Hồng Lâm – xã Đức Hồng – huyện Đức Thọ (cũ); một số di dân lên Tân Hương, Trại Côc, cũng có anh em định cư tận Sơn La, Hòa Bình. Sau khi ông Tộc trưởng Hoàng Nguyên Bính mất thì con trai trưởng là Ông Hoàng Đình Huy làm Tộc trưởng. Gia đình ông Huy đi di dân xuống xã Đức Hồng, nhà thờ Họ được gia đình Ông Hoàng Xuân Diệu (em ông Huy) trông coi. Sau này do sông Lam lở sâu về phía nam, Làng Quang Dụ mất dần đi một phần đất đai. Để đảm bảo an toàn một số hộ gia đình phải tiếp tục di dân; trong đó có gia đình ông Diệu dời về sống ở xóm Đức Minh – xã Đức Thuận (gần xóm Hồng Lâm – xã Đức Hồng). Nhà thờ Họ được di dời về đặt trong vườn nhà ông Tộc trưởng Hoàng Đình Huy. Năm 1995 anh em dòng tộc quyên góp tiền của và được sự tài trợ của một số con cháu đã xây dựng lại Nhà thờ khang trang như ngày nay. Tộc trưởng hiện nay là Ông Hoàng Xuân Thâm, con trai trưởng của Ông Hoàng Đình Huy.

“Con người có tổ có tông; Như cây có cội, như sông có nguồn”. Việc tìm và soạn lại gia phả Họ Hoàng làng Quang Dụ là việc làm vô cùng cần thiết. Hiện nay các Cụ cao niên đã về với Tổ tiên; con cháu do cuộc sống phải đi làm ăn xa; việc kết nối liên lạc, cung cấp tài liệu để biên soạn gia phả gặp rất nhiều khó khăn. Rất mong được sự hưởng ứng của anh em, con cháu trong dòng tộc để cuốn gia phả Họ Hoàng sớm hoàn chỉnh.  

Được phát triển bởi Gia Phả Đại Việt dựa trên nền tảng công nghệ của Cloudzone